Bùn thải từ quá trình xử lý nước thải

Ở Việt Nam, việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải đã không được nhiều sự chú ý, do đó, một sản phẩm của quá trình xử lý nước thải sau quá trình xử lý bùn dư thừa vẫn còn rộng mở. Độc tính của họ cũng không thể bỏ qua tuy nhiên đặt ra một vấn đề khó khăn đối với các ngành chức năng trong việc thu thập và xử lý bùn, bùn đặc biệt là chất thải nguy hại từ quá trình xử lý nước chất lượng như thế nào đối phó thực sự chứ không phải tokenistic.

Bùn, bùn và thu gom rác thải và xử lý tình trạng hiện nguy hiểm.

6 loại bùn mà thường phát sinh trong quá trình xử lý nước thải: xử lý bùn trong hệ thống thoát nước thải sinh hoạt đô thị, bùn thải từ ngành công nghiệp hệ thống thoát nước thải, bùn từ việc nạo vét kênh mương kỳ, bùn từ các bể tự hoại (bùn hầm), bùn thải từ các trạm / uống các nhà máy xử lý nước, bùn từ các công trình xây dựng. Bùn đang rơi vào thu thừa thiếu hiện điều trị và thực tế là không phải tất cả bùn này sẽ được xử lý theo các tiêu chuẩn kỹ thuật đã được ban hành. Các cơ sở sản xuất kinh doanh thường được thu thập sau đó để cho đi ở một nơi không xác định, thường là vùng sâu vùng xa, dân cư thưa thớt để giảm chi phí xử lý bùn cho các doanh nghiệp, bất chấp những hậu quả nghiêm trọng xảy ra trọng tới môi trường và sức khỏe con người.

Bun-thai-tu-qua-trinh-xu-ly-nuoc-thai

Bùn thải hoặc hoạt động bùn từ các sản phẩm ngành công nghiệp thức ăn gia súc, thực phẩm, giấy, nhựa và nhựa không có chất thải nguy hại. Còn lại bùn từ các kỹ thuật cơ khí, kim loại, dệt may, hóa chất, thuộc da, xi mạ, dược phẩm, mỹ phẩm, sơn, mực in .. có chứa rất nhiều chất thải độc hại trong quá trình sản xuất do sử dụng cụ thể hóa chất nguy hiểm nếu không được thu gom và xử lý một cách thích hợp sẽ dẫn đến một sự rò rỉ chất độc hại ra môi trường.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố, trong các danh mục trên, trừ bùn bùn hầm cầu nhà vệ sinh được chế biến và sử dụng như phân bón, các loại bùn thải được xử lý sơ bộ chỉ hoặc không xử lý và đổ trực tiếp vào các bãi chôn lấp, hoặc … chưa biết “ở đâu, ở đâu”! Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến bùn nhà máy xử lý nước thải thường được xử lý cụ thể là bùn được ép hoặc sấy khô và sau đó áp dụng trực tiếp cho các nhà máy trong khu công nghiệp (KCN Lê Minh Xuân); được ủ trên trang web ủ (KCN Vĩnh Lộc); hoặc bán cơ sở cho phân huỷ (Tân Tạo), hoặc giao cho đơn vị chức năng thu thập và xử lý (Khu công nghiệp Bình Chiểu, KCN Tân Bình, KCX Tân Thuận) và sau đó sẽ được thực hiện nơi các nhà chức trách cũng không rõ chức năng. Vì vậy, hàng ngàn tấn bùn m3 / ngày để đi vẫn là câu hỏi lớn chưa có câu trả lời cụ thể.

Bùn thải từ quá trình xử lý nước thải

Các bãi chôn lấp chất thải rắn tại các nhà máy xử lý nước thải của rắn

Cụ thể tại TP.HCM chỉ có 13 nhà máy xử lý chất thải nguy hại; 49 đơn vị chức năng thu thập, vận chuyển, chế biến, chỉ có 19 đơn vị có khả năng xử lý công suất chế biến khoảng 10% chất thải nguy hại. 30 đơn vị còn lại chỉ thu thập, vận chuyển và phân phối các chất thải nguy hại ở khắp mọi nơi.

Việc xác định bùn thải từ bùn xử lý nước có thể nguy hiểm hay không rất quan trọng. Để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường như một xanh-sạch-đẹp, Bộ Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên đã ban hành QCVN 50: 2013 / BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bùn thải từ quá trình xử lý nước, là xây dựng trên QCVN 07: 2009 / BTNMT kỹ thuật quốc gia quy định về ngưỡng chất thải nguy hại; Tổng cục Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế và các trình duyệt được ban hành Thông tư số 32/2013 / TT-BTNMT ngày 25 Tháng 10 năm 2013 do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bài viết sau đây chúng tôi xin cung cấp thông tin ngắn gọn với bạn bây giờ, các công ty môi trường hiểu tổng quan về các vấn đề của ngưỡng nguy hại của bùn thải từ quá trình xử lý nước.

Bun-thai-tu-qua-trinh-xu-ly-nuoc-thai1

 

Thông tư số 32/2013 / TT-BTNMT ngày 25 Tháng 10 năm 2013 do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7, 1 vào năm 2014;

NTR 07: 2009 / BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định của Bộ về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại;

NTR 50: 2013 / BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định của Bộ về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bùn thải từ quá trình xử lý nước;

Thông tư số 12/2012 / TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2011.

Phạm vi điều chỉnh của bùn thải từ quá trình xử lý nước.

Quy định này quy định ngưỡng nguy hại của tham số (parameters trừ bức xạ) trong bùn phát sinh từ quá trình xử lý nước thải, xử lý nước (sau đây gọi là quá trình xử lý nước), với tên tương ứng tại Thông tư số 12/2011 / TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại như một cơ sở cho việc xác định và quản lý bùn thải.

Đối tượng áp dụng

Quy định này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động liên quan đến bùn thải từ quá trình xử lý nước.

Việc xác định một dòng bùn là chất thải nguy hại hay không dựa trên nguyên tắc chung dựa vào ngưỡng nguy hiểm của các thông số trong bùn. Nếu kết quả của các dòng bùn phân tích mẫu cho ít nhất một (01) các thông số trong bùn độc hại vượt tại bất kỳ thời điểm lấy mẫu hiện dòng bùn mà được định nghĩa là chất thải nguy hại.

Bùn của quá trình xử lý nước được xác định là chất thải nguy hại tại một trong các trường hợp sau đây:

a) ≥ pH 12,5 hoặc pH ≤ 2,0;

b) Trong các mẫu bùn phân tích ít nhất 01 thông số quy định trong Bảng 1 lọc (nội dung cơ sở tuyệt đối (H) và nồng độ ngưỡng nguy hiểm tính (CTC) của các thông số bên trong bùn thaitrong giải pháp QCVN 50: 2013 / BTNMT) giá trị vượt ngưỡng 2 và HTC và Ctc.

Giá trị ngưỡng nồng độ tuyệt đối (Htc, ppm) được tính bằng công thức sau đây:

Bùn thải từ quá trình xử lý nước thai2Trong:

H (ppm) là cơ sở giá trị tuyệt đối số lượng được quy định tại Bảng 1 trong QCVN 50: 2013 / BTNMT.

T là tỷ lệ khối lượng của các thành phần rắn khô trong mẫu bùn thải trên tổng khối lượng mẫu bùn.

Lấy mẫu, phân tích, phân bổ bùn.

Đơn vị lấy mẫu và phân tích phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định môi trường.

Nguyên tắc lấy mẫu, phân tích và phân bùn

Để lấy mẫu ít nhất 03 ngày khác nhau, thời gian thực hiện là khác nhau mỗi ngày (đầu, giữa và cuối của một sự thay đổi hoặc hàng loạt hoạt động). Để khuấy động và trộn bùn trước khi lấy mẫu; mất ít nhất 03 mẫu ngẫu nhiên đại diện ở các vị trí khác nhau.

Giá trị trung bình của kết quả phân tích mẫu được lấy để so sánh với mức độ tuyệt đối giá trị ngưỡng Htc hoặc mức ngưỡng nguy hiểm cho việc xác định Ctc ngấm bùn.

Việc lấy mẫu lấy mẫu, phân tích và phân bùn phải được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế tại QCVN 50: 2013 / BTNMT đã chỉ định.

Xác định bùn trong quá trình xử lý nước thải là bùn độc hại, sau đó thu thập và xử lý tương tự như việc xử lý các chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật, giúp các công ty và các doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật và bảo vệ môi trường, tất cả cho sự phát triển lâu dài của toàn bộ cộng đồng.

Sau khi phân tích nếu bùn bùn phải được đăng ký thuộc quyền quản lý chất thải nguy hại và lưu trữ các hồ sơ chất thải nguy hại, xử lý phù hợp với quy định tại Thông tư 12/2012 / TT-BTNMT. Và nước thải không được vượt quá đề chất thải nguy hại với chất thải công nghiệp có thể sử dụng làm phân bón hoặc xử lý theo các quy định hợp lý bãi rác.

Đây là một thủ tục mới trong hệ thống quản lý môi trường của doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp và cá nhân sẽ không giúp đỡ trong những bỡ ngỡ thực hiện, Công ty Cổ phần Thương Mại Dịch Vụ Khoa học thay thế cung cấp một loạt đầy đủ các dịch vụ môi trường, không bao giờ xa doanh nghiệp trong quá trình phát triển bền vững , phát triển cùng với bảo vệ môi trường. Công ty chúng tôi luôn luôn mở để nhận được bất kỳ câu hỏi về các thủ tục và hồ sơ về môi trường của tất cả các doanh nghiệp và cung cấp kế hoạch tối ưu cho các vấn đề kinh doanh của Việt Nam trong lĩnh vực môi trường. Chúng tôi hy vọng được hợp tác với các công ty và doanh nghiệp của bạn.

Có thể bạn quan tâm